ĐẤT LÀNG - Tiến Bộ

Breaking

Home Top Ad

Post Top Ad

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

ĐẤT LÀNG


Truyện Ngắn - Đoàn Hữu Hậu

ảnh minh họa. Nguồn Internet
Hơn mười năm trời sống vất vả kiếm sống ở xứ lạ quê người, tôi đã nghiệm ra một điều: “Không vốn liếng không thể làm ăn được. Làm thuê thì suốt đời chỉ làm tôi mọi cho người ta…” . Ý nghĩ đó thôi thúc tôi nhanh chân về quê bán đất lấy tiền làm vốn lên thành phố kiếm cách làm ăn. “Có phước làm quan, có gan làm giàu.” Dân gian đã đút kết kinh nghiệm ấy rồi mà.

Trước mắt tôi là một dãy nhà sang trọng. Tôi đang ngơ ngác, phân vân không biết đây có phải quê mình hay không, thì đàng kia một đoàn xe Honda chạy theo sau, hộ tống chiếc xe tang sang trọng chạy vào làng. Nhìn bề thế phong cách của đoàn người đưa đám, tôi đoán đây là đám ma của người nào đó ở thành thị. Đang dõi mắt nhìn đám tang đi qua, bỗng đâu sau lưng tôi có vật gì đó vỗ vỗ vào lưng. Tôi quay nhìn lại thì ra đó là con chó mực già nua mình đầy ghẻ lở. Con mực mừng quýnh vồ hai chân trước vào người tôi, đuôi nó ngoắc lia ngoặc lịa, miệng phát ra tiếng gì ong óng . Đúng là con mực của ông Từ giữ đình. Nếu không có cái đình đầu làng, thì tôi không thể biết được đây là làng quê cũ của mình .

Các căn nhà xây sang trọng kề cận san sát nối tiếp nhau, với nhiều kiểu dáng xinh đẹp. Trên mỗi nóc nhà đều có cột ăng- ten, căng dây chằng chịt. Đường đi tráng nhựa phẳng lì. Hai bên đường là các cột điện với những hàng dây giăng thẳng tắp, không thua kém gì con đường ở thị xã mà tôi đã đi qua. Tim tôi bỗng phập phồng , một cảm giác lạ len lỏi trong lòng , vừa bồi hồi vừa mừng vui xen lẫn nỗi lo sơ bâng quơ… Ơi làng quê gì sao mà xa lạ quá!... Không nghe thấy một lời chào. Tôi lấy lại tinh thần, khẳng định đây là quê mình rồi cắm cổ đi nhanh, với hy vọng gặp lại “người xưa”.

Đây rồi! Ranh đất nhà tôi với cái miếu thờ thổ địa, rêu phong cũ kỹ. Cảnh vật ở đây vẫn còn như nguyên vẹn . Vì mưu sinh theo trào lưu của xã hội, anh em tôi mỗi ngưòi tha hương một nơi để lại đứa em gái chăm sóc mẹ già. Vậy mà năm ngoái đây nó đã lấy chồng người Đài Loan. Một bà già đang tưới hoa. Mẹ tôi đây mà!... Tội nghiệp. Bà không nhận ra tôi. Tôi đứng nhìn bà trân trân mà nước mắt tuôn trào. Hai hàm răng cắn chặt, dằn cảm xúc để không phải hét lên, tôi chạy lại quỳ xuống ôm hai chân bà:

- Mẹ!... Mẹ ơi con đã về đây. Tôi gào lên.

****

Đêm ấy mẹ kể cho tôi nghe chuyện những ngày không có tôi ở nhà. Hỏi thăm vì sao bà con xóm này bây giờ giàu quá vậy?! Mẹ tôi nạt ngang:

- Làm gì giàu, tàn mạc thì có!

Tôi tròn mắt cãi lại: “Nhà cửa như vậy mà không giàu là gì?!...”.

- Nhà là của người ta đó con... Họ ở nơi khác lại đó... Bà con, chòm xóm mình bán đất đi hết rồi!

Rồi bà kể lại câu chuyện mà tôi đã nghe nói nhiều lần: Hồi ấy vùng nầy thưa thớt, cây cối um tùm rậm rạp. Ông nội tôi cùng vài người trong số tha hương đến đây khai phá, rồi lập ấp lập làng. Ban ngày chặt phá cây làm rẫy, ban đêm thay phiên nhau canh giữ thú rừng. Làng xóm thành phảnh, xóm làng trù phú, bọn cường hào ở tận đâu đến đòi thu tô, ức hiếp dân làng. Bà con cả xóm cùng nhau đấu tranh với bọn chúng. Rồi trong một trận ẩu đả với bọn hào, lý, ông nội tôi bị chúng bắn chết. Trước khi nhắm mắt ông tôi còn kịp dặn lại với bà con, hãy cố gắng gìn giữ đất đai... Hết chuyện xưa, bà kể sang chuyện nay: Đứa em gái út của tôi lấy chồng người Đài Loan. Nó giấu giếm, bí mật tổ chức cho đến ngày rước dâu bà mới hay!... Nghĩ tới nó bà vừa giận vừa thương… Bà muốn trút giận- thương đó vào tôi. Đêm quá khuya, để cho bà nghỉ, tôi phải giả đó ngủ gục, bà mới chịu thôi.

Bên ngoài, trời se lạnh, chứng tỏ đã sắp bình minh.

Hồi ấy cứ vào thời điểm này là tiếng gà gáy âm vang từ đầu trên đến xóm dưới, nhiều tiếng kêu gọi nhau ơi ới ra đồng, tiếng kẽo kẹt của những quang gánh hòa lẫn với tiếng trâu , bò “nghé ngọ” báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Bây giờ thì ... yên ả quá .

Mặt trời lên cao. Tôi bước đi lững thững trên đưòng cố tìm lại những cái gì xưa cũ. Không gặp một bóng người quen. Tôi đang cố nhớ ra, thì bỗng nghe tiếng kèn, trống inh ỏi vang lên phía trước mặt. Lại một đoàn người với chiếc xe tang, chở quan tài ai đó về làng… chôn.

Vòng ra phía sau, trước đây là đất ruộng bỏ hoang, tôi nhận ra có một dãy nhà lá chắc mới được cất vài năm nay. Theo con đường nhỏ xíu, đắp không bằng phẳng, hai bên là những thửa ruộng bị cuốc xới lem nhem, tôi tiến về phía có xóm nhà mới cất, chợt có tiếng một người đàn ông: “Ê! thằng Hiển đó phải hông!?”. Tôi quay đầu nhìn lại. Người vừa hỏi tôi là chú Ba Hào, cha của Hoa, người con gái tôi yêu thiết tha từ hồi mới lớn. ông ngoắc tôi nói lớn:

- Lại đây! Lại đây! Hiển! Mày... lớn quá! Về hồi nào? Sao! Bộ còn giận chú hả!?… Thôi chuyện cũ bỏ qua đi cháu!… Sau nghĩ lại tao thấy thương mày lắm!…

Tôi lặng thinh đến gần ngồi bên cạnh ông. Sau khi hỏi thăm việc làm ăn của tôi, ông kể bằng một giọng trầm buồn, đứt quảng:

- Cháu biết hông. Năm ấy mất mùa, bác gái đau nặng phải bán hết đất đai, rồi dời nhà ra phía sau này nè.Bây giờ phải đi làm thuê kiếm sống. Mấy anh chị em nó bỏ nhà đi xa hết rồi, chỉ còn lại vợ chồng già… Con Hoa mấy năm trước thỉnh thoảng có về thăm, nhưng vài năm trở lại đây không nghe tin tức gì cả. Chỉ tay về phía cánh đồng, cặm cột đá, căng chì gai chằng chịch như bàn cờ, bác nói tiếp:

- Bà con ở đây bán gần hết ruộng rồi! Người ta mua rồi rào đó!... Có nhà không còn một cục đất chọi chim... Hết đất đai cả xóm kéo nhau ra ngoài này lập xóm mới, nương nhau mà sống… Ứ hự! Khổ lắm con ơi!...

Từ giã chú bước đi, lòng tôi buồn rười rượi. Được một đổi tôi quay lại nhìn ông.

Làm sao tôi có thể quên được, chính con người này năm xưa đã từng xỉ vào mặt tôi hét : “Mày là đồ con nít hỉ mủi chưa sạch bày đặt yêu đương… Mày phải kêu con Hoa bằng chị!… Biết chưa! Từ đây về sau tao cấm mày không được lãng vãng đến gần con gái tao!… Nghe chưa!… đồ quỷ!…”. Cũng vào lúc đó ông đã đánh Hoa một trận thừa chết thiếu sống vì “tội”… “cặp đôi” với tôi. Nhưng chúng tôi không sợ vẫn lén lút tới lui. Để cắt đứt tình cảm chúng tôi ông bắt Hoa phải lấy chồng, một người hoàn toàn xa lạ, ở mãi tận đâu đâu…

- Hiển ơi!… lát về ghé qua nhà bác chơi nghen!…

Tiếng của ông vọng theo. Tôi ngoảnh lại gật đầu lấy lệ.

Tôi nhớ như in hơn mười năm trước đây, Quang là tình địch của tôi. Nó lớn hơn tôi 6 tuổi , to con khỏe mạnh, cầm đầu bọn trăn trâu. Nó ganh tôi với Hoa. Cứ mỗi lần thấy Hoa đi với tôi là nó cùng bọn chăn trâu, hát mấy câu trêu chọc:

“Chị nuôi trổ mã thành rồng
Em nuôi trổ mã thành chồng chị nuôi”


Rồi nào là “chồng già vợ trẻ là tiên, vợ già chồng trẻ là duyên ba đời…”. Hát xong cả bọn phá lên cười. Tôi tức lắm nhưng hễ nói lại thì nó dọa đòi trấn nước tôi. Có lần nó còn đắp hai cái mả đất song song trên bờ ruộng, rồi viết tên tôi và tên Hoa lên đó. Tôi tức quá bữa đó định ăn thua đủ với nó. Nó nhào lại định đánh tôi, thì Hoa chạy đến đuổi chúng nó đi. Nó nổi khùng lên mét với ông Ba Hòa cha Hoa rằng tôi với Hoa giả làm “vợ chồng” ngoài ruộng!… Ông Ba đã đánh Hoa một trận nên thân, rồi sau đó bắt đi… lấy chồng! Tôi đã thề không đội trời chung với thằng Quang, rồi bỏ xứ ra đi từ đó đến nay.

Lẩn thẩn bước đi trên con đường mòn nhỏ của cái “làng mới”về phía đình làng, tuyệt nhiên tôi không thấy bóng dáng một thôn nữ nào. Họ đi đâu cả rồi?!. Có phải ở đây là quê mình không? Tôi cứ miên man suy nghĩ. Cũng còn may, còn có cây đa, mái đình, con chó mực của ông Từ. Đúng là quê tôi đây mà. Qua khỏi khu vực thuộc đất của đình làng, giờ chỉ còn trơ lại những gốc cây, dĩ vãng trong tôi lại hiện về.

Chính nơi đây hơn mười năm trước, tôi đã từng lẽo đẽo theo chị Hoa vào rừng bẻ những cành cây khô bó lại đem về làm củi. Hôm ấy vào một buổi trưa nắng gắt dưới bóng cây cổ thụ này đây chị Hoa ngả lưng nghỉ trưa tay cầm nón lá quạt phe phẩy. Bên cạnh đó tôi mệt nằm sóng soài ra đất mà thở dốc. Một hồi chị ngủ thiếp đi. Hai chiếc nút áo bà ba bị sút ra, để lộ một khuôn ngực trắng ngần cao ráo, thoi thóp đều đều theo nhịp thở. Tôi chăm chăm đôi mắt vào chỗ “lạ lùng” ấy. Bất chợt chị mở mắt, đúng lúc tôi đang chăm chú. Nhìn lại thấy cổ áo mình bị sút chị xấu hổ nhào tới, táng vào mặt tôi một cái bốp. Cái tát rất mạnh, nhưng sao tôi không thấy đau. Tôi xấu hổ đứng chết trân. Sau khi tát tôi, chị như có vẻ hối hận, quay nhìn sang chỗ khác, hai tay buông thõng xuống, thở ra nhè nhẹ... Một ngày, trong lúc tôi đang yên lặng thu mình nấp sau bụi cóc kèn, tập trung rình để bẫy con chim câu. Nghe tiếng sột soạt tôi quay lại thì chị đã đến nằm sát sau lưng tôi. Lúc ấy đàn chim câu bay sà xuống chỗ giăng bẫy. Chị kêu lên: “giựt”. Tôi giật mình làm theo như một cái máy. Hai tấm lưới chập lại, một con chim bị dính vào lưới, vỗ cánh đành đạch vùng vẫy cố thoát thân. Chị cười reo to “dính rồi”. Rồi hai đứa chúng tôi nhanh nhẹn chạy về phía tấm lưới. Tôi đưa tay túm lấy con chim câu đang vỗ cánh bành bạch đưa cho chị. Chị hớn hở, tay vừa vuốt ve con chim vừa nói “Đẹp quá...Tội nghiệp cho mày quá!.. Vào lồng rồi biết chừng nào mới được bay ra hả chim?!...”.

****

Thời gian trôi qua tình cảm giữa tôi và Hoa ngày càng nảy nở. Chúng tôi sống những ngày hồn nhiên, êm đẹp ở đất làng nầy. Đến một hôm Hoa gặp tôi:

- Anh Hiển !... “em”... phải đi lấy chồng... ở xa!....

Nói rồi Hoa vụt cắm đầu chạy như trốn. Lần đầu tiên tôi nghe từ miệng Hoa tiếng “em” xưng với tôi cũng là lần chúng tôi vĩnh viễn xa nhau.Tôi đứng lặng người ... Ngày cưới chị cũng là ngày tôi bỏ xứ ra đi.

Bỗng có tiếng người gọi giật ngược, làm tôi giật mình.

- Hiển! Hiển phải không? Tiếp tay khiêng với chị, con Hoa nè, nó bệnh nặng lắm!...

Tôi còn đang bàng hoàng thì người đàn bà ấy đã xuống xe nắm tay tôi kéo lên xe. Đó là chị Năm Nhỏ, ở gần nhà tôi. Chỉ vào một người đang nằm dưới sàn xe chị nói .

- Con Hoa nè!... Người yêu cũ của mầy đó!... Chồng nó bỏ nó mấy năm nay. Nó sống với tao ờ Sài Gòn... Nó bịnh mấy tháng nay... Nặng quá rồi... Bác sĩ chạy tao phải chở nó về nhà!...
Khuôn mặt Hoa gầy còm nhợt nhạt, cố mở đôi mắt lờ đờ nhìn tôi, miệng nói gì lắp bắp không rõ tiếng. Tôi bước đến quỳ xuống đưa mặt vào sát mặt Hoa thì thầm:

- Sao đến nông nổi này vậy?...

Đưa cánh tay gầy guộc yếu ớt, Hoa nắm lấy tay tôi, nói thều thào:

- Anh Hiển!... Hãy tha thứ cho em... Em!... Em... yêu anh!... Nhớ anh nhiều... lắm!...
Hai tay tôi nắm chặt lấy hai bàn tay yếu ớt của Hoa, nước mắt tuôn trào.

- Chị… mà không em… em không có lỗi!... Em phải khỏi bệnh để sống với anh!...

- Em không sống nổi đâu anh ơi!... Được gặp anh… được trở về làng cũ, em... em mản nguyện rồi!...
Tiếng nói Hoa đứt quãng, đôi mắt trợn lên rồi đứng tròng.Hoa chút hơi thở sau cùng, hai bàn tay còn nắm chặt lấy tay tôi. Tôi hét lớn:

- Hoa!... Hoa!... Trời ơi em bỏ anh rồi!... Tôi gục đầu trên người Hoa.

- Phần số nó có vậy!... mày vuốt mặt nó... để nó đi thư thả... Chuyện còn dài để hôm nào tao kể lại cho mày nghe. Chị Bảy đứng cạnh nhắc.

Tôi bủn rủn đưa tay lên mặt Hoa, từ từ vuốt nhẹ từ trên xuống. Đôi mắt Hoa khép lại, như một người ngủ say.
Xe dừng lại ở một con đường nhỏ vào nhà Hoa. Nhưng người ta đã rào con đường này lại rồi, vì đất đã bán cho người khác. Tôi bảo người lái xe cứ chạy thẳng về nhà tôi .

Tới nhà, dừng xe, tôi ôm Hoa xuống xe. Chị Bảy vừa chạy vào nhà vừa nói “Bác Sáu ơi! Con Hoa chết rồi”. Mẹ tôi ngồi trước cửa nhà hốt hoảng nói: “Đứa nào chết?!... Con Út phải không?!...”. Rồi hốt hoảng chạy ra giở chiếc khăn đắp mặt xem ai.

Đêm ấy, trước sân nhà tôi là chiếc quan tài của Hoa. Phía trên được che tạm bằng tấm bạt. Một đám ma lạnh lẻo, buồn bã với hơn chục người là ông già, bà lão thân thuộc còn bám lại ở cái làng nầy. Tuyệt nhiên không thấy một bóng dáng người phụ nữ nào ngoài mẹ tôi và chị Bảy. Ánh sáng đèn điện của hai nhà bên cạnh nhà hắt sang, nhờ vậy mà đám tang đỡ tối tăm Tiếng nhạc từ dàn karaoke ở cách đó mấy căn nhà, như muốn giễu cợt cái đám tang nghèo.

Ông Ba quỳ trước quan tài đứa con gái, nước mắt giàn giụa: “Con ơi! đất đai đã bán hết, bây giờ không còn đất để chôn con!... Hồn con có linh thiêng hãy tha thứ tội cho ba!....Mộ phần của mẹ con phải đào đem đi chỗ khác!... Ba đành phải thiêu con thôi, con ơi!...”. Tiếng khóc than của ông nghe thảm thiết quá. Nhìn ông tôi quên đi cách xử sự ngày nào của ông đối với tôi.

Mẹ tôi đồng ý chôn Hoa tại đất nhà của tôi gần mộ cha tôi. Theo gợi ý của chị Bảy nên chôn Hoa nằm hơi xa ra mộ cha tôi và quay đầu sang hướng khác.

Đêm ấy dưới ngọn đèn dầu mờ tỏ, mẹ tôi cầm ba nén hương đứng khấn vái dưới bàn thờ thật lâu. Bà lầm thầm vái van cái gì đó, rồi quay sang tôi bà nói: “Con về đây định bán đất, nhà phải không? Để chôn cất mẹ xong con hãy bán… Đây là quê cha đất tổ! Bà con làng xóm thi nhau bán đất bỏ ra đi tìm cái sống mới đổi đời. Em con còn ở nước ngoài, không biết cuộc sống khổ cực thế nào? Bán rồi, chết trở về không có đất mà chôn…”.

Tôi lặng lẽ bước ra sân đi về phía miếu Thổ địa, quỳ xuống, chắp hai tay miệng khấn lầm thầm: “ Con sẽ canh giữ miếng đất nầy đến hơi thở cuối cùng. Thổ địa có linh thiêng phù hộ cho con”. Nửa vầng trăng chênh chếch, chiếu cái bóng của tôi lên miếu thổ thần. Đêm đã khuya, mọi người đã ngủ ngon, một sự im ắng đến lạnh người.

Đoàn Hữu Hậu,

Bài do tác giả gởi. VANGANH.INFO biên tập và minh hoạ.


Đoàn Hữu Hậu
Là nhà văn, nhà báo được đào tạo tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền TP Hồ Chí Minh, hiện đang sống và làm việc tại Rạch Giá - Kiên Giang, Việt Nam....





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad